Kể từ đầu năm 2022, tốc độ tăng trưởng của kinh tế thế giới giảm mạnh cùng với tình trạng lạm phát liên tục gia tăng, đạt kỷ lục tại nhiều quốc gia và điều kiện tài chính toàn cầu thắt chặt hơn đã tạo ra nhiều cuộc tranh luận về khả năng kinh tế toàn cầu có thực sự rơi vào suy thoái hay không? Bài viết tập trung phân tích những đặc điểm của hoạt động kinh tế hiện nay, phản ứng chính sách và các dự báo kinh tế để từ đó, so sánh, đối chiếu với những cuộc suy thoái kinh tế đã từng xảy ra trong quá khứ.
Kể từ đầu năm 2022, tốc độ tăng trưởng của kinh tế thế giới giảm mạnh cùng với tình trạng lạm phát liên tục gia tăng, đạt kỷ lục tại nhiều quốc gia và điều kiện tài chính toàn cầu thắt chặt hơn đã tạo ra nhiều cuộc tranh luận về khả năng kinh tế toàn cầu có thực sự rơi vào suy thoái hay không? Bài viết tập trung phân tích những đặc điểm của hoạt động kinh tế hiện nay, phản ứng chính sách và các dự báo kinh tế để từ đó, so sánh, đối chiếu với những cuộc suy thoái kinh tế đã từng xảy ra trong quá khứ.
Một dấu hiệu khác cho thấy sự suy thoái kinh tế là khi điều kiện vay vốn trở nên khó khăn, nhất là đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Các ngân hàng thắt chặt chính sách cho vay do rủi ro tiềm ẩn trong tương lai của những khoản vay đó. Việc khảo sát, thăm dò ý kiến chuyên viên ngân hàng hoặc phân tích chỉ số điều kiện tín dụng là những yếu tố quan trọng để đánh giá một nền kinh tế đang hưng thịnh hay suy thoái.
Về phía quốc gia, tình trạng thiếu hụt nguyên vật liệu khiến chính phủ bắt buộc phải đi vay ở các quốc gia khác, trong thời gian dài nền kinh tế không có chuyển biến tốt sẽ gây ra nợ xấu.
Về phía cá nhân, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, lương trả cho người lao động thấp trong khi lạm phát cao sẽ làm tăng nguy cơ nợ xấu cá nhân.
Có thể thấy rằng khi một nền kinh tế suy thoái, toàn bộ thị trường đều bị ảnh hưởng, có nghĩa là mọi cá nhân, tổ chức đều sẽ bị thiệt hại dù ít hay nhiều. Mặc dù khủng hoảng kinh tế làm hạn chế sự đa dạng của các kênh đầu tư, nhà đầu tư vẫn có thể cân nhắc các hướng đầu tư như sau:
Một số nhà kinh tế học quan niệm rằng các yếu tố ngoại sinh như thời tiết, chiến tranh, giá dầu… là nguyên nhân chính gây ra suy thoái kinh tế trong ngắn hạn. Mặt khác, các học giả theo thuyết tiền tệ lại cho rằng chính sự quản lý tiền tệ yếu kém của chính phủ mới là nguyên nhân chính gây ra sự suy thoái.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, đa số mọi người đều thống nhất rằng nguyên nhân gây ra suy thoái là bởi cả những yếu tố nội sinh theo chu kỳ và những cú sốc ngoại sinh.
Định nghĩa suy thoái kinh tế nêu trên cũng một phần cho thấy tình trạng này xuất hiện khi có sự tụt giảm về hoạt động kinh tế nói chung và GDP nói riêng. Bên cạnh đó, suy thoái kinh tế còn được biểu hiện qua một số dấu hiệu cụ thể như sau:
Suy thoái kinh tế thế giới khi đi qua luôn để lại những tổn hại lớn mà khó có thể quên được. Cùng Zalopay điểm lại những cuộc suy thoái kinh tế thế giới để nhìn lại chặng đường phát triển kinh tế trong những năm gần đây:
Năm 1929 là thời điểm mà các sàn giao dịch vô cùng nhộn nhịp nhưng tình trạng thất nghiệp vẫn tăng và sản xuất thì giảm trên toàn cầu. Tổng GDP thế giới giảm đến 26% và tỉ lệ đầu cơ mặc định cao nhất là 15,4%.
Năm 1980 xảy ra hai cuộc suy thoái lớn làm rung chuyển nền kinh tế cả thế giới. Sự kiện đầu tiên diễn ra do một phần thay đổi trong chế độ ở Iran và tình trạng giá dầu tăng mạnh. Sự kiện thứ hai bắt đầu từ năm 1981 và kéo dài đến 16 tháng ngay sau khi Cục Dữ Liệu Liên bang tăng lãi suất để ngăn chặn lạm phát. Tổng GDP giảm xấp xỉ 2,5% và tỷ lệ đầu cơ mặc định cao nhất khoảng 2%.
Cuộc suy thoái toàn cầu năm 2007 - 2009
Suy thoái năm 2007 vẫn là một nỗi ám ảnh tồi tệ nhất kể sau cuộc Đại suy thoái năm 1929. Thời điểm này, bất động sản dường như vỡ trận làm kìm hãm ngành tài chính, tín dụng và thế chấp. Ước tính GDP giảm 4,3% và tỷ lệ đầu cơ mặc định cao nhất là 4,1%.
Đại dịch COVID-19 đã gây ra một cuộc khủng hoảng chưa từng có tiền lệ của nền kinh tế thế giới. Tốc độ và độ sâu khác thường của giai đoạn suy thoái bắt đầu từ tháng 4/2020, khi tỷ lệ thất nghiệp tăng mạnh chưa từng thấy kể từ sau cuộc Đại khủng hoảng năm 1933. Lúc này, tổng cầu giảm do người dân chỉ ở nhà thay vì chi tiêu, kéo theo hoạt động kinh doanh giảm sút, GDP của hầu hết các quốc gia cũng bị ảnh hưởng tiêu cực.
Tính đến năm 2024, tuy có những dấu hiệu tích cực như chuỗi cung ứng dần ổn định và nhu cầu tiêu dùng tăng trở lại, song sự phục hồi kinh tế vẫn diễn ra không đồng đều giữa các quốc gia. Các vấn đề như lạm phát gia tăng, nợ công chồng chất và bất ổn địa chính trị tiếp tục đe dọa triển vọng tăng trưởng. Thế giới đang hướng tới một trạng thái "bình thường mới", nơi sự linh hoạt và thích ứng là chìa khóa để vượt qua những khó khăn kinh tế còn tồn tại.
Trên đây là một số thông tin liên quan đến suy thoái kinh tế, về những dấu hiệu, nguyên nhân và ảnh hưởng của hiện tượng này. Hy vọng qua bài viết trên, Zalopay đã giúp bạn biết suy thoái kinh tế là gì, nguyên nhân gây nên tình trạng này cũng như giúp bạn có thêm sự chuẩn bị khi gặp trường hợp này.
Bạn từng nghe đến nhưng chưa hiểu rõ suy thoái kinh tế là gì? Bạn cần được giải đáp cho thắc mắc suy thoái kinh tế nên làm gì? SSBM Việt Nam sẽ giúp bạn qua bài viết sau đây.
Kinh tế suy thoái càng nặng, giá trị đồng nội tệ của quốc gia đó sẽ càng giảm mạnh. Điều này không chỉ ảnh hưởng nội bộ quốc gia đó mà còn tác động xấu đến nền kinh tế khác, đặc biệt đối với những quốc gia xuất siêu.
Thị trường chứng khoán có thể hứng chịu các đợt giảm điểm liên tục. Chính các chỉ số trên sàn giao dịch sẽ phản ánh trực quan nhất tình hình kinh tế của mỗi quốc gia.
Nguyên nhân dẫn tới suy thoái kinh tế vẫn đang là vấn đề được các nhà lý thuyết và người làm chính sách tranh luận. Mặc dù đa số đều đồng tình rằng nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là sự kết hợp giữa yếu tố nội sinh theo chu kỳ và những cú sốc từ bên ngoài. Tuy nhiên, vẫn có rất nhiều tranh luận khác diễn ra giữa các học thuyết kinh tế để tìm ra nguyên nhân thực sự, cụ thể như sau:
Chu kỳ kinh tế là những biến động của GDP thực tế, diễn ra theo quy trình 3 pha: Suy thoái - Phục hồi - Hưng thịnh. Trong đó, các hoạt động kinh tế sẽ trải qua quá trình biến động lên xuống, lặp lại theo vòng tuần hoàn.
Tuy nhiên, nhiều người lại chỉ quan tâm đến hai pha chính là suy thoái và phục hồi. Khi đó, nền kinh tế đang trong chu kỳ suy thoái có thể ảnh hưởng nghiêm trọng cho các doanh nghiệp đang hoạt động. Nền kinh tế sẽ phải gánh chịu những tổn thất và chi phí khổng lồ.
Số lượng người không có việc làm và đang hưởng trợ cấp thất nghiệp gia tăng là những dấu hiệu cho một cuộc suy thoái kinh tế đang đến gần. Bởi vì, điều này đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp có xu hướng thu hẹp hoạt động sản xuất kinh doanh, thậm chí giải thể, dẫn đến sự tái cơ cấu lực lượng lao động, làn sóng cắt giảm nhân sự…
Chu kỳ kinh tế là sự biến động về khả năng tăng trưởng của một nền kinh tế theo trình tự ba pha: Suy thoái – Phục hồi – Hưng thịnh. Trong đó, Suy thoái và Hưng thịnh có thể coi là hai giai đoạn cốt yếu trong một chu kỳ kinh tế, còn Phục hồi là một quá trình thứ yếu để duy trình một nền kinh tế.
Chu kỳ suy thoái kinh tế có thể xảy ra khi một quốc gia đạt đến đỉnh cao phát triển tại một thời điểm xác định và chưa đủ điều kiện và nguồn lực để phát triển hơn nữa.